Tài chính - ngân hàng

Tương lai chiến lược ngân hàng số tại Việt Nam

Sáng ngày 25/3, tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức diễn đàn “Tương lai Chiến lược Ngân hàng số tại Việt Nam”.

Diễn đàn là cơ hội để các chuyên gia, diễn giả, học giả trong và ngoài nước cùng với các lãnh đạo cơ quan, bộ, ban ngành của Đảng và Nhà nước gặp gỡ, thảo luận thẳng thắn, đa chiều về chính sách, thông tin, các tính năng, lợi ích của ngân hàng số mang lại cho doanh nghiệp. 

Toàn cảnh diễn đàn. Ảnh: Trần Thùy

Covid-19 đã và đang thay đổi thói quen của người tiêu dùng. Thông tin tại diễn đàn cho thấy, 64% sẵn sàng tiếp tục sử dụng dịch vụ giao đồ ăn, 63% tiếp tục mua sắm online, 38% sử dụng dịch vụ thanh toán online, ví điện tử thường xuyên hơn… Vì vậy, chuyển đổi số trong ngành ngân hàng là cần thiết cho sự phát triển kinh tế trong tương lai.

Ông Đàm Nhân Đức – Giám đốc Nghiên cứu Phát triển, Ngân hàng TMCP Quân đội nhận định: “Tiềm năng thanh toán online của Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển, đặc biệt đối với các sản phẩm như thời trang hay đồ điện tử và ước tính tới năm 2025, quy mô thanh toán online tại Việt Nam có thể đạt tới con số 8,7 tỷ đô”.

Ông Đàm Nhân Đức – Giám đốc Nghiên cứu Phát triển, Ngân hàng TMCP Quân đội. Ảnh: Trần Thùy

Về hiện trạng chuyển đổi số tại các ngân hàng hiện nay, phần lớn các tổ chức tín dụng không chỉ triển khai đa dạng dịch vụ cho khách hàng trên kênh số, mà còn tập trung số hóa các hoạt động nghiệp vụ, vận hành nội bộ.

Nói về số hóa các hoạt động nghiệp vụ, vận hành nội bộ hiện tại, Bà Nguyễn Thùy Dương – Phó tổng Giám đốc EY Việt Nam cho biết, hiện có 73% quy trình hoạt động liên tục, 47,6% hệ thống quản lý quan hệ khách hàng và có 42,8% chữ ký điện tử, chữ ký số nội bộ.

Các chuyên gia về IT cho rằng, quá trình tái tạo số trong lĩnh vực ngân hàng đi qua 3 nấc thang: 

Thứ nhất: Số hóa (digitization) – chuyển đổi các quy trình thủ công, truyền thống sang quy trình số, trực tuyến qua máy tính và internet;

Thứ hai: Chuyển đổi kỹ thuật số (Digital transformation) – Số hóa toàn bộ doanh nghiệp tạo nên trải nghiệm của khách hàng, hỗ trợ khách hàng những gì họ cần và muốn;

Thứ ba: Tái tạo số (Digital Reinvention) – Kết hợp công nghệ và nền tảng kỹ thuật số chưa từng có trước đây để tạo doanh thu và kết quả thông qua các chiến lược, sản phẩm và trải nghiệm sáng tạo. 

Theo cách phân đoạn này, hầu hết các ngân hàng ở Việt Nam đang ở giai đoạn chuyển đổi kỹ thuật số (giai đoạn 2) trong khi các ngân hàng toàn cầu đang tiến lên bước tái tạo số và thậm chí còn nhiều ngân hàng đang hoạch định xa hơn thế. 

Cũng theo bà Nguyễn Thùy Dương, vướng mắc mà các ngân hàng tại Việt Nam gặp phải khi thực hiện chuyển đổi số là do các ngân hàng không xác định rõ tầm nhìn về số hóa ngân hàng và mối liên hệ với chiến lược kinh doanh của ngân hàng; phương thức làm việc vẫn theo lối cũ (waterfall), hầu hết các ngân hàng gặp thách thức với các hệ thống hiện tại (legacy system).

Bên cạnh đó, chưa có khung pháp lý với các ý tưởng về các sản phẩm số hóa hoàn toàn mới, dẫn đến các ngân hàng dè dặt trong việc ra mắt sản phẩm mới.

Ông Phạm Xuân Hùng – Trưởng ban Nghiên cứu và Điều phối chính sách giám sát, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho rằng, các cơ quan quản lý cần sớm hoàn thiện khung khổ pháp lý về định danh khách hàng trực tuyến có giới hạn; về hệ thống đại lý ủy thác của ngân hàng về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ ngân hàng số.

Chính sách về an toàn, bảo mật thông tin trong giao dịch điện tử để bảo vệ lợi ích hợp pháp cho khách hàng cũng cần được hoàn thiện sớm…

Bên cạnh đó, các ngân hàng cần nghiên cứu và xây dựng lộ trình chuyển đổi ngân hàng số, phân bổ nguồn lực phù hợp cho đầu tư công nghệ mới; đẩy mạnh quá trình số hóa ngân hàng và phát triển ngân hàng số thuần túy.

Trần Thùy

Back to top button