Theo dòng thời sự

Thơ chúc Tết của Bác Hồ

Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn người Việt Nam nào hết. Ngót 30 năm bôn tẩu bốn phương trời, Người vẫn giữ thuần túy phong độ, ngôn ngữ, tính tình của một người Việt Nam. Ngay sau khi về nước, gặp Tết, Người không quên mừng tuổi đồng bào và quà bánh cho trẻ em, chỉ có mấy đồng xu, nhưng cũng bọc giấy hồng thơm cẩn thận, tươm tất”.

Chủ Tịch Hồ Chí Minh Trong Phòng Làm Việc Tại Căn Cứ Việt Bắc. Ảnh Tl
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phòng làm việc tại căn cứ Việt Bắc. Ảnh: Tư liệu

Những bài thơ chúc Tết hằng năm của Bác, cũng là quà mừng tuổi của Người cho nhân dân ta. Đó là món quà tinh thần cao quý của lãnh tụ với quần chúng vừa là tôn trọng các truyền thống tốt đẹp của nhân dân và để kêu gọi nhân dân đi lên con đường cách mạng. Qua mấy chục năm, việc này như thành một phong tục rất đẹp mỗi dịp Xuân về.

Từ ngày Bác ra đi xa… chúng ta đâu còn được bồi hồi đợi chờ nghe Bác đọc thơ mừng Xuân mới trên Đài tiếng nói Việt Nam trong giờ phút ấm cúng thiêng liêng của đêm giao thừa. Nhưng những vần thơ xuân ấm áp nồng hậu của Người còn mãi mãi in sâu trong lòng mỗi người dân đất Việt. Cũng như hôm nay, trong không khí rộn ràng của mùa Xuân, những vần thơ chúc tết của Bác lại trở về trong hồi ức của chúng ta.
Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Bác về nước khoảng mùa xuân năm 1941 để bầu bạn với:

“Đây suối Lê Nin, kia núi Mác”…
hoặc “Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng”…

Bài thơ chúc tết đầu tiên của Bác chúng ta được biết là bài “Mừng Xuân 1942”, trong đó Bác đã:

“Chúc đồng bào ta đoàn kết mau
Chúc Việt minh ta càng tiến tới
Chúc toàn quốc ta trong năm nay
Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới”.

Hai chữ “Đoàn kết” đối với chúng ta ngày nay thực ra có một ý nghĩa thật sâu sắc và rộng lớn mênh mông. Trong lịch sử của dân tộc, mỗi lần có nạn ngoại xâm thì tiếng căm thù lại thét lên, lòng thương yêu đùm bọc nhau lại càng khăng khít (Nhiễu điều phủ lấy giá gương). Tổ quốc trở nên “Ruột thịt” lạ thường! Thời Trần Hưng Đạo thì “Trên dưới một lòng” và những đầu bạc Diên Hồng cũng chụm lại mà lo việc nước. Đến thời Lê Lợi, Nguyễn Trãi thì càng nói nhiều đến hai chữ “Đồng lòng”, chữ “Nhân nghĩa”. Nhưng thật ra đến thời đại chúng ta những chữ đó lại càng được phát triển và có một nội dung vô cùng phong phú. Cuộc chiến tranh nhân dân của dân tộc ta căn bản đã dựa trên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Vì thế Hồ Chủ tịch từ giữa cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp đã nhấn mạnh lấy chữ lớn:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”.

Với Bác, đoàn kết không phải chỉ là một chiến thuật, một chủ trương mà là một tư tưởng cơ bản của cách mạng. Nó đã hòa vào máu. Nó đã trở thành hoa. Hoa mùa xuân đến với mọi người, mọi nhà.

Bác làm thơ chúc tết đồng bào thật giản dị, nôm na, nhưng sâu lắng biết chừng nào. Bác không thích ai tán dương thơ Bác. Có lần Bác đã nói, đại ý: “Bác làm thơ là để tuyên truyền, có bài được, có bài không, sao bài nào các chú cũng khen hay tất cả?”. “Lão phu nguyên bất ái ngâm thi”. Ngâm thơ ta muốn không ham, cái ham muốn tột bậc của Bác là hạnh phúc cho nhân dân, độc lập thống nhất cho tổ quốc. Vì thế thơ chúc tết của Bác là để mừng Xuân, để kêu gọi nhân dân đoàn kết một lòng đồng tâm hiệp lực đánh giặc, giữ nước:

“Mấy câu thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”

Lần giở những bài thơ chúc tết của Bác từ mấy chục năm nay chúng ta xiết bao xúc động. Ngay từ những đầu đề “Thơ chúc tết năm Nhâm Thìn”, “Thơ chúc tết Quý Tỵ”, “Thơ chúc tết Giáp Ngọ”… đã nói lên sự quan tâm của Bác đến những thói quen gọi tên năm, tháng cổ truyền. Nhưng dần dần Bác đã đưa cách nói mới “Thơ mừng xuân 1966”, “Mừng xuân 1967”, “Mừng xuân 1968”, “Mừng xuân 1969”, lẫn với cả cách hành văn mới nữa. Mừng xuân 1966 Bác viết:

“Mừng miền Nam rực rỡ chiến công
Nhiều Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Pơ-Lây-Me, Đà Nẵng”…
Hay năm 1960:
“Mừng Đảng chúng ta ba mươi tuổi trẻ”

Bài thơ chúc tết đầu tiên Bác viết là mừng xuân 1942:

“Tháng ngày thấm thoát thoi đưa
Năm cũ qua rồi chúc năm mới”.

Năm 1949, Bác viết:

“Kháng chiến lại thêm một năm mới
Thi đua yêu nước thêm tiến tới
Động viên lực lượng và tinh thần
Kháng chiến càng thêm mau thắng lợi”.

Năm 1952, chúng ta đánh thực dân Pháp được 5 năm, nhiều người đã thấy dài, Bác đã vỗ về:

“Xuân này kháng chiến đã năm xuân
Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công”.

Năm 1953, gian khổ chồng chất, chỉ còn một năm nữa chúng ta có chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Bác đã cổ vũ:

“Xuân này xuân Nhâm Thìn
Kháng chiến vừa sáu năm
Trường kỳ và gian khổ
Chắc thắng trăm phần trăm”.

Năm 1961, năm thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Bác viết:

“Mừng năm mới, mừng xuân mới
Mừng Việt Nam, mừng thế giới
Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh
Kế hoạch 5 năm thêm phấn khởi
Chúc miền Bắc hăng hái thi đua
Chúc miền Nam đoàn kết tiến tới
Chúc hòa bình thống nhất thành công
Chúc chủ nghĩa xã hội thắng lợi”…

Cứ như thế, theo các bài thơ chúc tết của Bác, chúng ta đã đi từ năm tháng này qua năm tháng khác, từ gian khổ này đến thắng lợi khác. Và, những bài thơ chúc tết về sau thì không chỉ là lời kêu gọi:

“Xuân về xin có một bài ca”.

Thực sự những bài thơ chúc tết là những bài ca lớn của dân tộc.                                                                     Xuân 1967:

“Xuân về xin có một bài ca
Gửi chúc đồng bào cả nước ta
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi
Tin mừng thắng trận nở như hoa”.

Và, cũng chính từ năm này, thơ Bác tươi nhạc, tươi vần, phơi phới hồn xuân, được các nhạc sĩ phổ biến thành ca khúc. Những bài ca, những khúc hát náo nức đêm giao thừa, rạo rực cả những ngày xuân, cổ vũ, thôi thúc chúng ta ra trận.
Xuân 1968:

“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!…

Với bài ca này, cả dân tộc ta đã tiến lên. Và, giờ đây ta vẫn ngỡ là Bác đang đứng trên đỉnh cao của lịch sử để hiệu triệu chúng ta vậy.
Tháng 3 năm 1968, giữa độ xuân Bác viết:

“Đã lâu không làm bài thơ nào
Nay thử lại làm xem sao
Lục khắp giấy tờ vẫn chửa thấy
Bỗng nghe vần “thắng” vút lên cao.

Vần “thắng” vút lên từ đầu năm 1975, ở Buôn Mê Thuột, vút lên tại thành phố Sài Gòn, vút lên trên cả đất nước Việt Nam thống nhất; vần “Thắng” ấy là bài ca muôn đời Bác để lại cho chúng ta.

Năm 1969, bài thơ chúc Tết cuối cùng! Sau đó hàng năm, đêm giao thừa, ta không còn được nghe giọng nói ấm áp của Bác đọc thơ mới nữa:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào
Tiến lên chiến sĩ đồng bào
Bắc Nam xum họp xuân nào vui hơn”.

Cảm hứng chủ đạo chùm thơ cuối cùng này của Bác là lời tiên tri, là tư tưởng vĩ đại, là tình cảm sâu sắc, tâm hồn trong sáng và nguyện vọng tha thiết nhất “Vì độc lập, vì tự do” của dân tộc ta, đã mơ ước từ ngàn xưa, cho đến mùa xuân 1975 đã trở thành hiện thực; “Mỹ cút”, “Ngụy nhào”; tổ quốc non sông ta đã thu về một mối, xuân chiến thắng, xuân của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã đến với muôn nhà và muôn đời.

Mỗi mùa xuân đến, với những ngày tết cổ truyền của dân tộc, hoa Đào, hoa Mai… nở rộ khắp mọi nhà, chúng ta lại bồi hồi xúc động nhớ đến những bài thơ chúc tết của Bác. Đọc thơ Bác, cũng như tưởng nhớ đến cuộc đời Bác, chúng ta đã học được bao nhiêu điều “Tinh thần”, “Đào núi và lấp biển”, một lòng “Thờ dân trọn đạo hiếu, thờ nước vẹn lòng trung”, một tư tưởng đoàn kết sâu sắc, một phong cách bình dị, trong sáng mà độc đáo và trên hết một chủ nghĩa lạc quan cách mạng sản sinh từ trong một cuộc chiến đấu lâu dài và gian khổ.

Năm tháng qua, trên bước đi của thời gian, qua mỗi kinh nghiệm đấu tranh, và thành tựu đạt được của cách mạng, cũng như tâm niệm riêng của mỗi người, chúng ta sẽ càng hiểu thêm và sâu sắc hơn những giá trị lớn trong những vần thơ chúc tết của Bác. Thơ của Bác đâu chỉ phải là câu chuyện văn thơ. Đọc mỗi vần thơ của Bác để nhận thức thêm một hành động, một ý chí, một tư tưởng của Bác; Và, cũng là để phấn đấu cho mỗi giọt máu Việt Nam, ta mang trong mình, ngày thêm tươi, thêm hồng, ngày thêm long lanh.

Nhà báo Lê Văn

Back to top button