Nông nghiệp

Quảng Ninh: Phấn đấu tốc độ tăng trưởng ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đạt 3,5-5,5%

Mới đây, UBND tỉnh Quảng Ninh vừa ban hành kế hoạch số 06/KH-UBND về việc cơ cấu lại ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh giai đoạn 2022-2025.

Theo đó, kế hoạch nhằm cơ cấu lại ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tập trung cho sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản theo hướng lựa chọn các sản phẩm có thế mạnh, phát triển thị trường, xây dựng chuỗi cung ứng – sản xuất – chế biến – tiêu thụ ứng dụng công nghệ, hình thành hệ sinh thái kinh tế nông nghiệp đồng bộ, bền vững nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp, trở thành cụ cột trong cơ cấu kinh tế, góp phần nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, có sức cạnh tranh…

Theo đó, giai đoạn 2022-2025, tỉnh đặt ra mục tiêu tỷ trọng cơ cấu ngành nông nghiệp trong GRDP của tỉnh là 3-5%; tốc độ tăng trưởng GRDP toàn ngành khoảng 3,5-5,5%.

Qn
Mô hình trồng ổi công nghệ cao tại xã Tràng Lương. Ảnh: BQN

Bên cạnh đó, phấn đấu tổng sản lượng thuỷ sản thuỷ sản đạt khoảng 177.000 tấn; tổng giá trị sản xuất thuỷ sản theo giá cố định tăng trưởng khoảng 7,2%/năm.

Cơ cấu kinh tế ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng trong lĩnh vực thuỷ sản chiếm trên 60% trong tổng giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp của tỉnh; tỷ trọng chăn nuôi tăng 55-60% trong cơ cấu lĩnh vực nông nghiệp;

Cơ cấu lại ngành nông nghiệp của tỉnh phải đảm bảo đạt và vượt chỉ tiêu 15 tiêu chí theo Quyết định số 255/QĐ-TTg ngày 15/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2021-2025.

Đặc biệt, ngành nông nghiệp phải gắn với xây dựng nông thôn mới, đồng thời đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới hải đảo… Đến hết năm 2025, có ít nhất 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và có ít nhất 30% số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.

Để thực hiện các mục tiêu trên, tỉnh đề ra 9 nhóm giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất: Tiếp tục hoàn thiện, tổ chức thực hiện cơ chế chính sách, huy động nguồn lực;

Thứ hai: Nâng cao trình động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ;

Thứ ba: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các hình thức tổ chức sản xuất;

Thứ tư: Phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và hạ tầng thương mại ở nông thôn hiện đại;

Thứ năm: Phát triển cơ giới hoá nông nghiệp và công nghiệp chế biến; công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ logistics;

Thứ sáu: Triển khai đồng bộ và quyết liệt các giải pháp đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm;

Thứ bảy: Đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực;

Thứ tám: Tăng cường năng lực hội nhập quốc tế;

Thứ chín: Bảo vệ tài nguyên, môi trường nông thôn, nâng cao khả năng thích ứng biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai.

Khuê Hiền

Back to top button