Công nghiệp

Giải pháp cuối vòng đời đối với điện mặt trời và điện gió ở Việt Nam

Tiếp tục chuỗi các chuỗi hội thảo chuyên đề của Diễn đàn cấp cao thường niên lần thứ ba về công nghiệp 4.0, chiều ngày 10/11, tại Trung tâm Hội nghị quốc tế, Ban kinh tế Trung ương tiếp tục chủ trì tổ chức hội thảo chuyên đề số 4: Phát triển năng lượng xanh và các năng lượng mới trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Ảnh Chụp Màn Hình 2021 11 10 Lúc 16.39.50
Hội thảo chuyên đề số 4: Phát triển năng lượng xanh và các năng lượng mới trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Thực trạng vấn đề điện mặt trời và điện gió ở Việt Nam

Tại Hội thảo chuyên đề số 4: Phát triển năng lượng xanh và các năng lượng mới trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ông Đào Xuân Lai – Trợ lý đại diện thường trú và Trưởng ban Biến đổi khí hậu và Môi trường, UNDP Việt Nam đã chỉ ra các vấn đề về điện mặt trời và điện gió ở Việt Nam.

Thành phần chất thải điện gió và điện mặt trời nói chung là một phần của các dòng chất thải công nghiệp. Dự báo lượng chất thải khổng lồ lên tới hàng trăm nghìn tấn từ điện mặt trời và điện gió trong mười năm tới.

Tấm quang điện và tuabin gió cuối vòng đời chứa các vật liệu có giá trị (thủy tinh, thép, nhôm, đồng, silica, kim loại hiếm…) mà việc tái chế và tái sử dụng cho phép tiết kiệm đáng kể nguồn tài nguyên. Trong khi đó, các tấm quang điện thải bỏ hiện được coi là chất thải nguy hại trừ phi các thành phần chứa vật liệu nguy hại không được loại bỏ và xử lý đúng cách.

Một số “khoảng trống” trong kế hoạch xây dựng điện mặt trời và điện gió ở Việt Nam được ông Đào Xuân Lai chỉ ra như sau:

Thứ nhất là khoảng trống về khuôn khổ pháp lý: mặc dù Việt Nam đã có các quy định rõ ràng và cụ thể về quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại, cơ sở pháp lý cụ thể cho việc phân loại chất thải từ điện mặt trời và điện gió vẫn chưa có.

Thứ hai là khoảng trống về cơ sở hạ tầng: Việc thu gom và xử lý chất thải còn thô sơ, chưa hoàn thiện trong khi việc thu gom và xử lý chất thải điện mặt trời và điện gió cần có quy trình đồng bộ, hiện đại, đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật, hiệu quả kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường.

Thứ ba là chưa có công nghệ xử lý: Các công nghệ tái chế và xử lý chất thải điện mặt trời và điện gió vẫn còn ở giai đoạn sơ khai trên toàn thế giới. Hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, kết hợp với sự hợp tác với ngành sản xuất điện mặt trời và gió trong việc cung cấp dữ liệu về thành phần và đặc tính vật liệu, đặc biệt liên quan đến độc tính và rửa trôi các chất độc hại có thể hỗ trợ phát triển các công nghệ liên quan. 

Giải pháp cuối vòng đời

Trợ lý đại diện thường trú và Trưởng ban Biến đổi khí hậu và Môi trường, UNDP Việt Nam đã chỉ ra 3 nhóm giải pháp cuối vòng đời cho các dự án điện gió và điện mặt trời ở Việt Nam như sau:

Về quản lý chất thải:

Cần phân loại chất thải và xây dựng các hướng dẫn cụ thể cho quá trình tháo dỡ các tấm quang điện (VD: văn bản hướng dẫn phân loại cho các dự án điện gió và điện mặt trời);

Điện gió và điện mặt trời cần tuân thủ quy định về Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR);

Thiết lập các hạn ngạch vật liệu riêng lẻ cần được tích hợp vào các mục tiêu tái chế và thu hồi tổng thể để đảm bảo quản lý bền vững đến cuối đời dự án;

Hạn chế chôn lấp chất thải điện gió và điện mặt trời;

Đảm bảo một khung pháp lý hài hòa về chất thải bao gồm cả việc vận chuyển chất thải xuyên biên giới.

Ảnh Chụp Màn Hình 2021 11 10 Lúc 16.40.45
Ông Đào Xuân Lai – Trợ lý đại diện thường trú và Trưởng ban Biến đổi khí hậu và Môi trường, UNDP Việt Nam đưa ra nhóm giải pháp cuối vòng đời cho các dự án điện gió và điện mặt trời ở Việt Nam.

Về tiếp cận công nghệ và hỗ trợ kỹ thuật:

Các kênh hỗ trợ thu gom và phân đoạn đến các cơ sở xử lý thích hợp;

Khuyến khích phát triển các công nghệ tái chế để thu hồi các vật liệu chiến lược có trong các nhà máy điện gió và mặt trời: tái chế thủy tinh, đồng xử lý trong lò xi măng, tái chế đất hiếm và các khoáng chất đặc biệt từ chất thải điện – điện tử và các tấm quang điện.

Về các biện pháp tài chính:

Vận hành cơ chế EPR áp dụng đối với các nhà sản xuất điện gió và điện mặt trời: phí EPR, phí tái chế, đặt cọc/chi phí trả trước cho nhà nhập khẩu/cung ứng/sản xuất;

Thiết lập các khuyến khích kinh tế và tài chính cho đầu tư của khu vực tư nhân vào quản lý, tái chế chất thải rắn.

Ngoài ra, theo ông Đào Xuân Lai, cần chú trọng trong xem xét xây dựng lộ trình quản lý chất thải cuối vòng đời điện gió và điện mặt trời qua lộ trình sau:

Thứ nhất: Xây dựng kế hoạch quốc gia về quản lý chất thải công nghiệp, phân biệt các loại khác nhau của dòng chất thải công nghiệp (chất thải nguy hại, không nguy hại và chất thải điện tử);

Thứ hai: Thiết lập các cơ sở xử lý và tiêu hủy phù hợp với chất thải công nghiệp có nguồn gốc từ lĩnh vực năng lượng;

Thứ ba: Công suất của các cơ sở xử lý nên được xác định dựa trên các nghiên cứu khả thi và nên bao phủ một số tỉnh;

Thứ tư: Hoàn thiện các yêu cầu pháp lý đối với các cơ sở đốt rác, bao gồm việc giám sát liên tục lượng khí thải và nhiệt độ đốt;

Thứ năm: Xây dựng công cụ cơ sở dữ liệu để cập nhật các thông tin về các cơ sở xử lý chất thải công nghiệp hiện có và tương lai ở Việt Nam;

Thứ sáu: Kết hợp các biện pháp hạn chế chôn lấp và kế hoạch quản lý sản phẩm là một biện pháp can thiệp hiệu quả để thúc đẩy các hoạt động thu gom và tái chế của các hệ thống điện gió và điện mặt trời.

Trần Thuỳ

Back to top button