Công Nghệ

Bụi PM2.5 và ứng dụng dữ liệu vệ tinh trong giám sát ô nhiễm

Ngày 1/12, tại Hà Nội, Trung tâm Sống và Học tập vì Môi trường và Cộng đồng (Live&Learn), Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU-UET) phối hợp với Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam (VCAP) và Tạp chí Tia Sáng tổ chức thực hiện công bố Báo cáo “Hiện trạng bụi PM2.5 ở Việt Nam giai đoạn 2019-2020 sử dụng dữ liệu đa nguồn” được công bố, đưa ra một bức tranh đầy đủ hơn về ô nhiễm không khí cả về không gian và thời gian.

Đây là báo cáo đầu tiên cung cấp thông tin hiện trạng bụi PM2.5 không chỉ tại Thủ đô Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh mà của tất cả 63 tỉnh/thành phố, với dữ liệu được tổng hợp và phân tích từ trạm quan trắc tiêu chuẩn, thiết bị cảm biến tới dữ liệu vệ tinh. Báo cáo nằm trong dự án “Chung tay vì Không khí sạch” được tài trợ bởi Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID).

Chia sẻ về báo cáo, TS. Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch VCAP cho biết,  báo cáo này có điểm mới ở việc sử dụng số liệu vệ tinh cùng với số liệu mặt đất để cho ra bức tranh tương đối tổng thể về chất lượng không khí toàn Việt Nam, chi tiết tới từng tỉnh hay từng quận/huyện. Tiếp cận kết hợp số liệu vệ tinh, số liệu trạm truyền thống và cảm biến chi phí thấp là hướng đi mà nhiều quốc gia đã và đang được ứng dụng ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên ở Việt Nam, đây là báo cáo đầu tiên sử dụng đa nguồn dữ liệu để đưa ra bức tranh toàn cảnh và cho người đọc một cách nhìn mới, tổng quát để bổ sung cho các báo cáo của cơ quan nhà nước.

“Bức tranh” bụi PM2.5 đầy đủ của 63 tỉnh, thành phố

PGS.TS Nguyễn Thị Nhật Thanh, VNU-UET đánh giá, chất lượng không khí toàn quốc năm 2020 có phần cải thiện hơn so với 2019, tuy nhiên nhiều vùng và địa phương vẫn chịu ô nhiễm bụi PM2.5. Cụ thể, trên phạm vi toàn quốc, nồng độ PM2.5 trung bình năm 2020 (8 – 35,8 µg/m3) có xu hướng giảm so với năm 2019 (9 – 41 µg/m3).

1
PGS.TS Nguyễn Thị Nhật Thanh, VNU-UET đánh giá, chất lượng không khí toàn quốc năm 2020.

Các vùng có nồng độ bụi PM2.5 cao là Đồng bằng sông Hồng (Hà Nội và các tỉnh lân cận), Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh (các khu vực ven biển), và TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương.  

Cũng trong năm 2020, toàn quốc có 10/63 tỉnh thành có nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm vượt quy chuẩn, trong đó tất cả các tỉnh thành này đều nằm ở miền Bắc. 

Năm 2019, toàn quốc có 13/63 tỉnh thành có nồng độ PM2.5 trung bình năm vượt quy chuẩn QCVN 05:2013/BTNMT (gồm 11 tỉnh thành tại miền Bắc, và 2 tỉnh thành tại miền Nam).

Báo cáo cũng đã xây dựng các bản đồ phân bố nồng độ bụi chi tiết tới cấp quận/huyện/thị xã cho Thủ đô Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. 

Theo đó, tại Hà Nội, đây là thành phố đứng thứ 6 trong xếp hạng các tỉnh, thành phố có nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm 2020 cao nhất. 

Nồng độ bụi trung bình cả hai năm 2019-2020 đều vượt quy chuẩn quốc gia QCVN 05:2013/BTNMT, mặc dù ô nhiễm bụi PM2.5 năm 2020 giảm 16% so với năm 2019. Hà Nội cũng ghi nhận sự chênh lệch nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm giữa các quận/huyện, trong đó cao hơn nội thành và thấp hơn ở các huyện ngoại thành (trừ các huyện Gia Lâm, Đông Anh và Thanh Trì). Năm 2020, có 29/30 quận/huyện có nồng độ trung bình năm vượt quy chuẩn quốc gia. 

2
Hà Nội là thành phố đứng thứ 6 trong xếp hạng các tỉnh, thành phố có nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm 2020 cao nhất.

Còn với TP. Hồ Chí Minh, nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm đứng thứ 11 trong xếp hạng toàn quốc. Nồng độ trung bình năm 2020 của thành phố vẫn thấp hơn giới hạn cho phép của QCVN 05:2013/BTNMT, và giảm 13% so với nồng độ trung bình năm 2019. 

Năm 2020, nồng độ bụi PM2.5 cao ở phía bắc và thấp ở phía nam của thành phố; và có 12/24 quận/huyện có nồng độ trung bình năm vượt quy chuẩn quốc gia. 

3
TP. Hồ Chí Minh có nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm đứng thứ 11 trong xếp hạng toàn quốc.

Các dữ liệu tổng hợp cho thấy giãn cách xã hội do đại dịch COVID-19 đã phần nào giúp cải thiện chất lượng không khí toàn quốc và hai đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Sử dụng đa nguồn dữ liệu trong giám sát chất lượng không khí

Trước đây, hiện trạng bụi PM2.5 ở Việt Nam được nghiên cứu và công bố trong các báo cáo định kỳ của cơ quan quản lý nhà nước cũng như một số tổ chức xã hội. Tuy nhiên, các báo cáo và nghiên cứu này còn nhiều hạn chế về nguồn dữ liệu và chưa khai thác các nguồn dữ liệu mở (như vệ tinh và các mạng lưới thiết bị cảm biến). 

Bên cạnh đó, dữ liệu quan trắc bụi PM2.5 từ mạng lưới quan trắc quốc gia thường không liên tục và không đầy đủ cho 63 tỉnh/thành trên cả nước, ngay cả ở Thủ đô Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. 

Trong khi đó, một số báo cáo quốc tế đã và đang sử dụng các nguồn dữ liệu mở và chỉ ra tình trạng ô nhiễm bụi PM2.5 đáng báo động tại Việt Nam. Xu hướng ứng dụng các công nghệ tiên tiến để bổ sung dữ liệu chất lượng không khí, đặc biệt từ dữ liệu mở (vệ tinh và các mạng lưới thiết bị cảm biến) đang diễn ra tại nhiều quốc gia phát triển và đang phát triển như Thái Lan, Đài Loan, Hoa Kỳ…

4

Dữ liệu và mỗi thiết bị quan trắc đều có những hạn chế và ưu điểm riêng, do đó cần nêu rõ các đặc điểm này khi chia sẻ dữ liệu và thông tin từ dữ liệu. Các mạng lưới quan trắc chất lượng không khí mặt đất (bao gồm trạm quan trắc và thiết bị cảm biến) cho biết đặc điểm của bụi ở khu vực nhất định, nhưng không thể đưa ra bức tranh về phân bố không gian hay sự thay đổi theo thời gian (mùa) của nồng độ bụi. Do đó, cần kết hợp nhiều công nghệ trong quan trắc chất lượng không khí để làm dày dặn cơ sở dữ liệu chất lượng không khí, về cả không gian và thời gian. 

Dựa trên kết quả của báo cáo và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đại diện Live&Learn đưa ra các khuyến nghị cụ thể:

Thứ nhất: Ứng dụng tiếp cận đa nguồn và dữ liệu mô hình tính toán từ ảnh vệ tinh trong giám sát chất lượng không khí nhằm đưa ra bức tranh về hiện trạng môi trường không khí ở cấp quốc gia, vùng miền và tỉnh, thành. 

Thứ hai: Xây dựng bản đồ phân bố bụi PM2.5 chi tiết tới từng quận/huyện/thị xã tại các tỉnh, thành phố có ô nhiễm bụi PM2.5

Thứ ba: Đẩy mạnh các nghiên cứu để xác định đóng góp nguồn thải bụi PM2.5 và cho các chất ô nhiễm không khí khác.

Thứ tư: Tăng cường mạng lưới trạm quan trắc CLKK tiêu chuẩn của nhà nước trên phạm vi toàn quốc, ưu tiên cho các tỉnh, thành phố có ONKK. 

Thứ năm: Thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong quan trắc bụi PM2.5 và các chất ô nhiễm không khí khác. 

Trần Thuỳ

Back to top button